top of page
Search

CÁC LOẠI THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU (PART 3)

[CHUỖI SERIES CHI TIẾT VIẾT ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU]

Theo cấp độ thiết kế nghiên cứu, nghiên cứu can thiệp được xếp vào loại nghiên cứu cung cấp chứng cứ khoa học mức giá trị cao, với điều kiện là nghiên cứu phải được thiết kế và thực hiện tốt.


Nghiên cứu can thiệp (Experimental study)


Bản chất của nghiên cứu can thiệp là nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu. Tuy nhiên điểm khác nhau là: nhà nghiên cứu quyết định tình trạng phơi nhiễm (khác với NC đoàn hệ là phơi nhiễm tự có), nếu quá trình này được phân bổ ngẫu nhiên thì có thể chia làm 2 nhóm:

  • Nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (Randomized Control Trial: RCT).

  • Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng theo cụm (Cluster randomized controlled trials)

Phân loại nghiên cứu can thiệp

Thử nghiệm lâm sàng (Clinical trial)

Thử nghiệm lâm sàng (Clinical trial) là nghiên cứu tiến cứu được thiết kế để xác định hiệu quả của phác đồ điều trị hoặc biện pháp ngăn ngừa biến chứng, đối tượng NC là bệnh nhân.

Trong đó nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (Randomized Control Trial: RCT) bệnh nhân sẽ được phân bổ ngẫu nhiên thành 2 hay nhiều nhóm. Việc áp dụng biện pháp can thiệp giữa các nhóm có thể theo các loại thiết kế sau:

Thiết kế song song (Parallel assignment)

Thiết kế song song (Parallel assignment): các đối tượng nghiên cứu được phân bổ ngẫu nhiên vào hai hoặc nhiều nhóm được nhận hai hay nhiều can thiệp khác nhau

Thiết kế bắt chéo (Cross-over assigment)

Thiết kế bắt chéo (Cross-over assigment): 1 nhóm đối tượng được phân bổ ngẫu nhiên vào nhóm sử dụng điều trị A, sau đó được đổi sang nhóm nhận điều trị B trong khi nhóm trước đó được nhận điều trị B sẽ quay sang sử dụng điều trị


Làm mù trong thử nghiệm lâm sàng

Làm mù nhằm làm tăng tính khách quan của kết quả đo lường được.

+ Mù đơn (Single-blind study): trong đó đối tượng nghiên cứu không biết mình thuộc nhóm nào (nhóm can thiệp hay nhóm đối chứng).

+ Mù đôi (Double-blind study): trong đó đối tượng nghiên cứu và người theo dõi đều không biết được người bệnh thuộc nhóm nào (nhóm can thiệp hay nhóm đối chứng).

+ Mù ba (Triple-blind study): trong đó đối tượng nghiên cứu, người tiến hành can thiệp và nghiên cứu viên đều không biết về phân nhóm can thiệp/chứng.

Phương pháp mù ba, mù đôi tốt hơn mù đơn tuy nhiên lại không thể áp dụng đối với các can thiệp ngoại khoa, hay một số trường hợp khác.

Theo cấp độ thiết kế nghiên cứu, nghiên cứu can thiệp được xếp vào loại nghiên cứu cung cấp chứng cứ khoa học có giá trị cao, tuy nhiên phải với điều kiện là nghiên cứu phải được thiết kế và thực hiện tốt. Tuy nhiên điều này cũng cho thấy rằng việc tiến hành nghiên cứu can thiệp trong hoàn cảnh thực tế có rất nhiều khó khăn.


Nghiên cứu bán thực nghiệm (Quasi-experimental)

Nghiên cứu bán thực nghiệm (Quasi-experimental) trong đó có ít nhất một đặc tính của nghiên cứu thực nghiệm kinh điển không đạt được, ví dụ như đối tượng nghiên cứu không được phân bổ ngẫu nhiên hoặc không có nhóm đối chứng


Thiết kế một nhóm (Single group design)

Thiết kế một nhóm (Single group design) Là loại hình thiết kế nghiên cứu can thiệp không có nhóm đối chứng. Dạng thiết kế này không khẳng định được hiệu quả của can thiệp.


Chỉ đánh giá sau can thiệp (Post-test only)

Chỉ đánh giá sau can thiệp (Post-test only): NC này tuy có nhóm chứng nhưng lại không đảm bảo phân bố ngẫu nhiên sự can thiệp.


Đánh giá trước và sau can thiệp (Pre- and post-tests)

Đánh giá trước và sau can thiệp (Pre- and post-tests): có thể có hoặc không có nhóm chứng, đối với trường hợp có nhóm chứng thì NC này lại không đảm bảo phân bố ngẫu nhiên sự can thiệp.

 
 
 

Recent Posts

See All
NỘI DUNG TỔNG QUAN Y VĂN

[CHUỖI SERIES CHI TIẾT VIẾT ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU - DAY 4] Một tổng quan y văn tốt phải được sắp xếp hợp lý từ tổng thể đến chi tiết, kết...

 
 
 

Comments


bottom of page